Công việc của kế toán phân phối lợi nhuận doanh nghiệp

0

Lợi nhuận chính là nguồn sống của mọi doanh nghiệp. Phân chia lợi nhuận thế nào cho phù hợp và đảm bảo nguồn vốn tái tạo cũng như mức lợi nhuận cho các thành viên là việc những kế toán rất đau đầu. Dưới đây là một số công viết quan trọng nhất mà kế toán cần làm.

 1. Nguyên tắc phân phối lợi nhuận

+ Lợi nhuận của NHTM là cơ sở để xác định thu nhập của chủ sở hữu, tiền lương kinh doanh cho cán bộ công nhân viên và là nguồn bổ sung vốn từ nội bộ của mỗi ngân hàng.

+ Cũng như các loại hình doanh nghiệp khác, số lợi nhuận thu được các ngân hàng phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp cho ngân sách nhà nước theo quy định.

+ Số lợi nhuận sau khi làm nghĩa vụ với Ngân sách, trích lập quỹ bổ sung nguồn vốn sẽ được phân phối theo chế độ tài chính của Nhà nước hoặc theo quyết định của Đại hội cổ đông.

+Việc phân phối lợi nhuận của NHTM cần tuân thủ một số nguyên tắc sau:

– Việc phân phối lợi nhuận chỉ được thực hiện sau khi đã được cơ quan tài chính duyệt quyết toán.

– Số lợi nhuận sau khi nộp thuế thu nhập doanh nghiệp cho NSNN sẽ được phân phối như sau:

a. Đối với các NHTM Nhà nước

1- Trích lập Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ (5%), quỹ này tối đa không quá số vốn điều lệ thực có.

2- Bù các khoản lỗ năm trước không được trừ vào lợi nhuận trước thuế.

3- Nộp các khoản thu về sử dụng vốn NSNN, bù đắp khoản phạt cho ngân sách, cho khách hàng do vi phạm pháp luật, vi phạm hợp đồng; các khoản phải bồi thường thuộc trách nhiệm của ngân hàng.

4- Phần còn lại được trích lập các quỹ theo tỷ lệ và mức quy định, gồm:

– Trích lập quỹ đầu tư và phát triển
– Trích lập các quỹ dự phòng tài chính
– Trích lập quỹ khen thưởng
– Trích lập quỹ phúc lợi
– Trích lập các quỹ khác

Sau khi trích lập các quỹ đủ mức quy định nếu còn thừa sẽ được bổ sung vào quỹ đầu tư phát triển hoặc xử lí theo quy định của Bộ Tài chính.

b. Đối với các NHTM cổ phần và NHTM khác

+ Các NHTM cổ phần và các NHTM không được NSNN cấp vốn thì sau khi trích lập quỹ bổ sung vốn điều lệ.

+ Nộp các khoản tiền phạt, tiền bồi thường và bù cho số lỗ năm trước cũng phải trích lập quỹ dự phòng tài chính theo quy định của cơ quan tài chính mới được trích lập quỹ chia lãi cổ phần và các quỹ khác.

+ Số trích lập quỹ chia lãi cổ phần và các quỹ khác sẽ do Hội đồng quản trị quyết định theo Đại hội cổ đông.

2. Kế toán phân phối lợi nhuận

a. Kế toán nộp thuế thu nhập doanh nghiệp

– Hàng quý, theo thông báo của cơ quan tài chính các ngân hàng phải tạm ứng để nộp thuế thu nhập doanh nghiệp. Khi tạm ứng nộp thuế, kế toán lập chứng từ chuyển tiền thanh toán với Kho bạc, hạch toán:

Nợ: TK Tạm ứng nộp NSNN
Có: TK thích hợp (Tiền gửi tại NHNN, tiền gửi của Kho bạc…)

– Cuối năm khi xác định được chính thức số thuế phải nộp, kế toán lập chứng từ hạch toán:

 Công việc của kế toán phân phối lợi nhuận doanh nghiệp

Nợ: TK lợi nhuận năm trước
Có: TK thuế thu nhập doanh nghiệp

– Kết chuyển số thuế đã nộp hàng quý và số thuế được miễn giảm để xác định số thuế còn phải nộp hoặc số đã nộp thừa cần thu hồi từ NSNN:

Nợ: TK Thuế thu nhập doanh nghiệp
Có: TK tạm ứng nộp NSNN (số thuế đã nộp)
Có: TK thích hợp (số thuế được miễn giảm)

+ Nếu số thuế nộp còn thiếu thì nộp thêm số chênh lệch còn thiếu:

Nợ: TK thuế TNDN
Có: TK thích hợp (tiền gửi tại NHNN, tiền gửi của Kho bạc…)

+ Nếu số thuế đã nộp thừa thì tất toán tài khoản tạm ứng nộp NSNN chuyển sang theo dõi trên tài khoản chờ NSNN thanh toán số chênh lệch nộp thừa, hạch toán:

Nợ: TK chờ NSNN thanh toán
Có: TK tạm ứng nộp NSNN

Số chênh lệch này sẽ được Ngân sách hoàn trả hoặc sẽ trừ vào số thuế phải nộp năm sau.

b. Kế toán trích lập các quỹ

– Cuối năm căn cứ vào kết quả kinh doanh đã được duyệt quyết toán, ngân hàng xác định số chính thức được trích các quỹ, hội sở chính sẽ hạch toán:

Nợ: TK Lợi nhuận năm trước
Có: TK quỹ thích hợp

– Trong các quỹ đã trích, có những quỹ được quản lý tập trung tại hội sở chính như quỹ bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự phòng tài chính, quỹ đầu tư phát triển;

– Có quỹ được giữ lại một phần tại hội sở, số còn lại được phân phối cho các chi nhánh theo kết quả kinh doanh của từng chi nhánh như quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi.

– Khi hội sở phân phối các quỹ khen thưởng, phúc lợi cho các chi nhánh theo quy định của cơ chế tài chính, kế toán tại hội sở sẽ chuyển tiền cho các chi nhánh và ghi:

Nợ: TK quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi
Có: TK chuyển tiền đi

– Tại các chi nhánh khi nhận được chuyển tiền phân phối lợi nhuận của hội sở chuyển về sẽ hạch toán:

Nợ: TK chuyển tiền đến
Có: TK quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi

c. Kế toán sử dụng các quỹ

+ Các quỹ ngân hàng mang tính chất là những quỹ chuyên dùng nên phải được quản lý chặt chẽ và sử dụng theo đúng chế độ.

+ Mỗi loại quỹ được sử dụng cho một mục đích nhất định, các ngân hàng không được sử dụng các quỹ để đầu tư ra nước ngoài hoặc sử dụng trái quy định của Nhà nước.

– Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ được sử dụng như nguồn vốn điều lệ của ngân hàng, khi được cơ quản tài chính và NHNN cho phép chuyển sang vốn điều lệ sẽ hạch toán:

Nợ: TK Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ
Có: TK Vốn điều lệ

– Quỹ đầu tư phát triển sử dụng cho mục đích đầu tư phát triển nghiệp vụ ngân hàng, khi sử dụng quỹ căn cứ vào số tiền chi cho mục đích phát triển nghiệp vụ ngân hàng, kế toán ghi:

Nợ: TK quỹ đầu tư phát triển
Có: TK thích hợp

– Quỹ dự phòng tài chính sử dụng để bù đắp cho những rủi ro tài chính sau khi đã sử dụng số dự phòng rủi ro trích lập nhưng không đủ bù đắp. Khi sử dụng quỹ để bù đắp rủi ro, kế toán ghi:

Nợ: TK quỹ dự phòng tài chính
Có: TK thích hợp

– Quỹ khen thưởng sử dụng để khen thưởng cho cán bộ CNV, quỹ phúc lợi sử dụng cho sự nghiệp phúc lợi.

+ Nếu sử dụng quỹ phúc lợi để mua sắm tài sản cố định cho mục đích phúc lợi của cán bộ CNV thì phải chuyển số quỹ tương ứng sang tài khoản quỹ phúc lợi đã hình thành tài sản cố định.

+ Khi sử dụng quỹ để chi khen thưởng, phúc lợi, kế toán ghi:

Nợ: TK quỹ khen thưởng (quỹ phúc lợi)
Có: TK thích hợp (tiền mặt, quỹ phúc lợi đã hình thành TSCĐ, …)

++Kế toán lợi nhuận của các doanh nghiệp: kế toán lợi nhuận của các DN nhà nước sau khi dùng để bù đắp lỗ năm trước và nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp được phân phối như sau:

lợi nhuận doanh nghiệp

+ Chia lãi cho các thành viên góp vốn liên kết theo quy định của hợp đồng (nếu có);
+ Bù đắp khoản lỗ của các năm trước đã hết thời hạn được trừ vào lợi nhuận trước thuế;
+ Trích 10% vào quỹ dự phòng tài chính, khi số dư quỹ bằng 25% vốn điều lệ thì không trích nữa;
+ Trích lập các quỹ đặc biệt từ lợi nhuận sau thuế theo tỷ lệ đã được nhà nước quy định đối với công ty đặc thù mà pháp luật quy định phải trích lập;
+ Số còn lại sau khi lập các quỹ quy định tại điểm nêu ra trong đây được phân phối theo tỷ lệ giữa vốn nhà nước đầu tư tại công ty và vốn công ty tự huy động bình quân trong năm.

Xem thêm:

+ Phần kế toán lợi nhuận được chia theo vốn tự huy động được phân phối như sau:

+ Trích tối thiểu 30% vào quỹ đầu tư phát triển của công ty;

+ Trích tối đa 5% lập quỹ thưởng Ban quản lý điều hành công ty. Mức trích một năm không vượt quá 500 triệu đồng (đối với công ty có Hội đồng quản trị), 200 triệu đồng (đối với công ty không có Hội đồng quản trị) với điều kiện tỷ suất lợi nhuận thực hiện trước thuế trên vốn nhà nước tại công ty phải bằng hoặc lớn hơn tỷ suất lợi nhuận kế hoạch;

+ Số lợi nhuận còn lại được phân phối vào quỹ khen thưởng, phúc lợi của công ty. Mức trích vào mỗi quỹ do Hội đồng quản trị hoặc Giám đốc công ty không có Hội đồng quản trị quyết định sau khi tham khảo ý kiến của Ban Chấp hành Công đoàn công ty.

+ Số phân phối chính thức cho các lĩnh vực trên phải căn cứ vào số lợi nhuận thực tế được xét duyệt (duyệt quyết toán năm). Tuy nhiên, để bảo đảm nguồn thu cho ngân sách cũng như cho các lĩnh vực khác, hàng quý, trên cơ sở thực lãi và kế hoạch phân phối, DN tiến hành tạm phân phối lợi nhuận theo kế hoạch. Cuối năm (hoặc đầu năm sau), khi quyết toán được duyệt, sẽ điều chỉnh theo số phân phối chính thức.

Nguồn: Internet

Công việc của kế toán phân phối lợi nhuận doanh nghiệp
Rate this post
Chia sẻ.

Chức năng bình luận đã bị đóng