Chấn thương sọ não có nguy hiểm không?

0

Hiện nay, có rất nhiều người bị chấn thương sọ não do tai nạn giao thông. Vậy chấn thương sọ não có nguy hiểm không?, hãy tìm hiểu bài viết sau đây nhé.

Hãy cùng kekhai-hn.com tìm hiểu bài viết sau đây:

Chấn thương sọ não có nguy hiểm không?

Chấn thương sọ não là một trong những tai nạn nguy hiểm nhất của loài người, nó khiến tỉ lệ tử vong hoặc sống đời sống thực vật khá cao.

Vỏ bọc não có cấu tạo rất mỏng, khi bị va chạm mạnh toàn bộ các tế bào nằm bên trong sẽ bị vỡ, gây tổn thương các dây thần kinh liên kết, phá hủy toàn bộ chức năng của não bộ. Chính vì vậy trí nhớ sẽ bị rối loạn, khả năng nhận thức của bệnh nhân hầu như rất thấp và đôi khi mất hoàn toàn. Nhẹ nhất là biểu hiện rối loạn trí nhớ.

Đây là hình thúc gây tổn thương thần kinh nghiêm trọng. Vì vậy các bệnh nhân cần có các chế độ chăm sóc và điều trị kịp thời để trí nhớ dần ổn định.

Biểu hiện của rối loạn trí nhớ do chấn thương sọ não

Hay quên, thậm chí không nhớ gì:  Đây là dấu hiệu thường thấy ở các bệnh nhân bị chấn thương sọ não. Khi bị tai nạn, các bệnh nhân này thường bất tỉnh tức thì.  

Sau khi tỉnh dậy, đầu đau dữ dội, không nhận ra người thân hay bạn bè. Và trong giai đoạn điều trị, trí nhớ rất kém, hầu như không nhớ những sự việc vừa xảy ra, khiến cho các bệnh nhân này như một đứa trẻ lên 2, mọi hoạt động sinh hoạt đều cần có sự giúp đỡ chăm sóc của người thân.

Chấn thương sọ não có nguy hiểm không 1

Chứng hay quên, mất kiểm soát là dấu hiệu thường thấy ở bệnh nhân

Nói lặp đi lặp lại: Tình trạng nói lặp lại một sự kiện, sự việc rất nhiều lần trong vô thức. Vì ở tình trạng não bộ bị tổn thương nặng, các dây thần kinh mất kết nối, bệnh nhân không thể ý thức được hành vi và suy nghĩ của bản thân.

Nói không chính xác hoặc nói những câu không liên quan (nói nhảm): Bệnh nhân chấn thương sọ não thường nói lảm nhảm, nói không chính xác hoặc nói những câu không liên quan đến chủ đề nào. Đôi khi tự độc thoại một mình.

Đau đầu dữ dội, mệt mỏi:  Các tế bào thần kinh bị tổn thương nặng, cho nên bệnh nhân sẽ có hiện tượng đau đầu dữ dội, cảm thấy bất lực, mệt mỏi ở giai đoạn đầu. Sau quá trình điều trị các dấu hiệu này bắt đầu giảm dần. Khi đau đầu như vậy thì sẽ quên mất mọi việc.

Chấn thương sọ não có nguy hiểm không 2

Chấn thương sọ não thường gây đau đầu dữ dội

Nếu thấy có những dấu hiệu của bệnh rối loạn trí nhớ ở trên hãy đến các cơ sở y tế uy tín để được tư vấn và điều trị kịp thời.

Cách cải thiện tình trạng rối loạn trí nhớ do chấn thướng sọ não

Hiện nay, đối với trường hợp rối loạn trí nhớ do chấn thương sọ não thì cách cải thiện hiệu quả nhất theo hướng dẫn điều trị của bác sĩ.

Trong đó cần lưu ý về chế độ dinh dưỡng cho bệnh nhân nhằm ổn định trí nhớ:

Cung cấp các thực phẩm giàu:

Omega 3: Các axít béo omega-3 vốn rất quan trọng đối với tế bào não và có nhiều trong cá, dầu cá, dầu hạt lanh, tảo, quả óc chó… Việc bổ sung omega-3 sẽ giúp bảo vệ dây thần kinh khỏi bị hư hại và phục hồi nhiều hơn sau chấn thương.

Amino acid: Nguyên tắc chung cho chế độ ăn uống của người bị chấn thương sọ não và trong quá trình phục hồi sau chấn thương sọ não là: ăn nhiều thực phẩm có hàm lượng protein cao.

Protein vốn được sử dụng cho sự tăng trưởng, sửa chữa, duy trì chức năng cho hầu như tất cả mô trong cơ thể và được “biên soạn” bởi các amino acid.

Các amino acid trong não có liên quan mật thiết trong việc duy trì ở mức bình thường những chất dẫn truyền thần kinh trong não.

Nguồn amino acid dồi dào nhờ vào những protein có ở thịt gà nạc, cá, các loại đậu que, đậu đũa, đậu Hà Lan… Có thể chọn các món cháo gạo, đậu phụ, trứng gà, thịt gà, thịt lợn, ruốc thịt, cá, sữa, táo, nước cam quýt, cà chua… cần chế biến thành các món mềm nhỏ dài, dễ nhai nuốt, thanh đạm hợp khẩu vị với người bệnh.

Đối với người hôn mê kéo dài, có thể cho ăn bằng ống qua mũi các món sữa bò, đường, nước cháo, sữa đậu nành, nước ép trái cây, nước rau…

Và cuối cùng, cần theo phác đồ điều trị của bác sĩ chuyên ngành. Hiện nay khi bệnh nhân đã được điều trị qua khỏi tình trạng cấp tính có thể được hướng dẫn bằng một chương trình phục hồi chức năng qua các giai đoạn.

Trong giai đoạn cuối cùng, phục hồi chức năng sẽ giúp bệnh nhân đạt được mức độ độc lập tối đa khi trở về gia đình, có thể trở lại với công việc cũ hoặc tiếp cận với một nghề mới phù hợp với tình trạng chức năng hiện tại.

Xem thêm :

Chia sẻ.

Chức năng bình luận đã bị đóng